|
TRUYỆN CÁC THÁNH
THÁNH TÔMA TRẦN VĂN
THIỆN
(1820-1838)
Chủng
sinh, trẻ người nhưng không non dạ
Thánh Đa Minh Toại và Huyên
Đa Minh Toại sinh năm 1812 và Đa Minh Huyên
sinh năm 1817. Hai ông là giáo hữu họ đạo Đông Thành, tỉnh Thanh Bình.
Cả hai đã có gia đình, là những gia trưởng đạo đức sốt sắng, luôn nêu
gương mến Chúa yêu người. Hai ông sống bằng nghề đánh cá, hằng ngày
chày lưới trên sông Nhị Bình, ở gấn cửa Ba Lạt. Tánh tình đơn sơ, lương
thiện, hai ông đều được các bạn đồng nghiệp và mọi người thương yêu khen
ngợi.
Tháng 8 năm 1861, vua Tự Đức bắt đạo gắt gao.
Nhà vua ra chiếu chỉ Phân Sáp, nhằm tận diệt người theo đạo Công Giáo.
Theo chiếu chỉ này, quân lính và người ngoại giáo được phép vào các làng
Công Giáo tịch thu tài sản và bắt các giáo hưũ đem nộp cho quan, để khắc
hai chử Tả Đạo lên má.
Lúc đó quân lính và người ngoại giáo kéo nhau
vào họ đạo Đông Thành. Sau khi vơ vét tài sản của người Công Giáo, họ
bắt nhiều người đem nộp cho quan huyện, trong số đó có ông Đa Minh Toại
và Đa Minh Huyên. Ông Toại vì bệnh đi lại không nổi, họ bảo ông nộp
tiền chuộc, họ sẽ thả ông về gia đình. Nhưng ông xin đi cùng họ đến
quan huyện vì ông muốn cùng các đồng đạo tuyên xưng danh Chúa trước mặt
mọi người, và hy sinh mạng sống làm chứng cho đạo.
Quân lính dẫn hai ông đến huyện Quỳnh Côi, và
giam vào ngục, đợi ngày xét xử. Suốt chín tháng bị giam trong ngục, hai
ông chịu đói, khát, xiềng xích, nhưng không bao giờ than van, lúc nào
cũng vui vẻ sẵn sàng chịu gian lao khốn khó, trước là để lập công
nghiệp, sau là để nêu gương can đảm hy sinh cho các bạn đồng đạo trong
ngục. Chẳng những thế, hai ông còn thường xuyên an ủi, khích lệ các bạn
bền tâm giữ vững đức tin.
Trong thời gian bị giam giữ, nhiều lần hai ông
bị điệu ra công đường, buộc bước qua Thánh Giá, nhưng các ông cương
quyết không làm theo. Các quan bèn tìm cách dụ dỗ, hứa trả tự do và ban
nhiều tiền của, nếu hai ông đạp lên Thánh Giá. Hai ông đáp:
-Của cải đời này nay còn mai mất,
không thể đem lại cho chúng tôi hạnh phúc vững bền. Chỉ có Chúa mới làm
cho chúng tôi sống đời đời, được hưởng phước muôn đời. Chúng tôi quyết
tin theo Chúa để được người thương ban hạnh phúc đó.
Các quan nổi giận kết án thiêu sống hai ông.
Hai ông vui mừng vì được làm chứng cho Chúa, và thông phần trong việc
cứu rỗi các linh hồn.
Sáng ngày 5 tháng 6 năm 1862, hai ông Đa Minh
Toại và Đa Minh Huyên bước lên giàn hỏa thiêu. Trong khi ngọn lửa bốc
cháy, hai ông cất tiếng hát ngợi khen và cầu xin Chúa thêm sức mạnh để
hoàn thành sứ vụ.
Ngày 29 tháng 4 năm 1951, Đức Thánh Cha Piô XII
tôn phong hai ông lên hàng Chân Phước, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô
tôn phong hai ông lên hàng Hiển Thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988.
Thánh PHAOLÔ HẠNH
(xử trảm ngày 28-5-1859 tại Sài Gòn)
Trích Từ Dòng Máu Anh Hùng Tập I-III của Lm Vũ Thành
Lời của Chúa Giêsu nói với người trộm lành ngày xưa "Thật tôi hứa
với anh, ngày hôm nay anh sẽ lên thiên đàng với tôi", rất thích hợp cho
trường hợp của vị anh hùng tử đạo Phaolô Hạnh. Trước khi bị kết án vì
xưng đạo, ngài đã không sống lương thiện, nói đúng ra là đã lập một nhóm
người chuyên nghề ăn cắp.
Phaolô Hạnh sinh tại Chợ Quán trong khoảng năm 1826-1827. Khi còn
bé đã theo bọn người bất lương, về sau theo hai người anh lớn là Thanh
và Ngai chuyên nghề trộm cướp. Chính ngài tụ tập các trẻ lang thang để
sai đi cướp giật. Theo lời bà Luxia Nguyễn Thị Vang thuật lại, thì một
đêm các lâu la đến nhà bà Hồng ăn trộm, sáng hôm sau gặp Hạnh bà đã nói
lại vì Hạnh thường lui tới nhà bà. Hạnh bắt các lâu la trả lại những đồ
đã lấy khiến bọn chúng tức giận liền đi tố cáo với xã trưởng là Hạnh có
liên lạc với người Pháp. Xã trưởng tên là Tri và Xa Đét vì sợ Hạnh không
dám làm gì, lặng lẽ lên tố cáo với quan tỉnh. Thế là Hạnh bị bắt đưa tới
quan án ở Bà Quẹo. Trước mặt quan ngài đã cực lực chối: "Tôi không bao
giờ giúp cho bọn người mọi rợ Âu Châu, cũng như không bao giờ liên lạc
với họ".
Quan không bắt người khai được điều gì để bắt tội thì quay sang
buộc tội theo đạo Công Giáo như sau: "Mày và rất nhiều người Chợ Quán
theo đạo Gia Tô".
Mặc dù không giữ đạo tử tế nhưng Hạnh đã can đảm hiên ngang xưng
mình là Công Giáo. Quan liền bắt ngài đạp ảnh chuộc tội, nhưng ngài
cương quyết không chịu. Dù bị đánh đập dữ tợn dù phải kìm kẹp xé thịt,
ngài vẫn không sờn lòng. Trước lòng can đảm xưng đạo, quan ra lệnh cho
về nhà giam hy vọng trong ít ngày sẽ nản mà bỏ đạo. Ngày hôm sau quan
cho gọi người ra tòa và hỏi như lần trước.
Những vết thương tra tấn vẫn còn rỉ máu nhưng vị anh hùng vẫn một
lòng trung thành xưng đạo. Lần này quan ra lệnh tra khảo bằng kìm nung
đỏ.
Mùi khét và đau đớn không lay chuyển đức tin. Quan lớn sáng chế ra
một thứ hình khổ khác, sai lý hình đem đe và búa ra để đánh dập ống
chân.
Phaolô Hạnh cắn răng chịu hình khổ quái ác này. Sau cùng quan chịu
thua trước sức mạnh của đức tin, làm án khép tội phải chém đầu vì theo
đạo Gia Tô. Án được thi hành ngày 28-5-1859.
Ông
Lê Tấn Chức là anh vợ của vị tử đạo, sau khi thuật lại việc tra tấn và
xưng đạo của ngài, cho biết thêm rằng trên đường đi người anh hùng xưng
đức tin đã tỏ ra hiên ngang và cho lý hình năm lạng bạc. Xác ngài được
chôn ngay tại cánh đồng và về sau người ta đào rãnh qua đó nên không thể
ghi nhớ chỗ nào là mả của ngài nữa.
Tôma Trần
Văn Thiện sinh tại Trung Quán, tỉnh Quảng Bình, năm 1920, trong một gia
đình đạo đức đã trải qua hai đời tin theo Ðạo Chúa.
Tôma
Thiện từ nhỏ đã tỏ ra đạo đức khôn ngoan và lễ độ. Năm lên 8, cậu đã
theo học chữ Nho với cha Thọ. Sau khi đã học tiếng La Tinh với Cha Wial,
năm 18 tuổi, Tôma Thiện được giới thiệu vào Chủng Viện Di Loan, Quảng
Trị, do Cha Candalh (cố Kim) điều khiển. Bình minh sáng mùng 6 tháng 6
năm 1838, quân lính mở cuộc phong tỏa Di Loan, lùng bắt cố Kim về tội cả
gan thiết lập một trường đạo ở đây. Cố Kim đã kịp trốn thoát. Ðám lính
liền bắt một số giáo hữu, trong đó có hai chị em Tôma Thiện cũng vừa mới
tới Di Loan. Tất cả đều bị giải về Quảng Trị.
Trong khi
hỏi cung, thấy Tôma Thiện khôi ngô tuấn tú, đối đáp nhanh nhẹn hoạt bát,
có vẻ con nhà nho sĩ, các quan nghi ngờ cậu là đồ đệ của đạo trưởng,
càng giữ lại lâu để vặn hỏi cặn kẽ hơn. Tôma khai mình mới từ Quảng Trị
vào, chưa kể gặp cố Kim (Cha Candalh), nhưng hiên ngang xưng mình là
người có đạo, không chút sợ hãi. Cậu xác quyết một lòng thờ phượng Thiên
Chúa tạo thành trời đất, thà chết chẳng thà bỏ đạo.
Trước sự
cứng cỏi của chàng thanh niên 18 tuổi, quan thẩm tra bèn quay sang đấu
dịu: “Cậu là con nhà nho sĩ, tương lai cậu sẽ tốt đẹp. Nếu cậu bỏ đạo,
tôi sẽ gả con gái cho, và liệu cho cậu nên quan”.
Tôma
Thiện ngẩng đầu lên, chỉ trời mà nói: “Tôi ao ước chức tước ở trên
trời mà thôi, còn phẩm hàm ở đời này tôi chẳng màng.”
Câu nói
khí thái của Tôma Thiện làm cho quan không còn bình tĩnh được nữa. Ông
quát tháo ầm ĩ và truyền cho lính: “Ðem nó nọc xuống, đánh một trận cho
nó biết thân.”
Dưới trận
mưa đòn, anh hùng trẻ tuổi Tôma Thiện chẳng chút sờn lòng. Cậu còn sung
sướng nói lên: “Ôi hạnh phúc thay tôi được đổ máu vì Chúa”.
Sáng hôm
sau, ngày 18-7-1832, lính đưa vào nhà lao một người tù mới, Cha Jaccard.
Tôma Trần Văn Thiện hết lòng cám đội ơn Chúa đã ban cho mình một vị linh
mục để chia vui sẻ buồn cùng để gíup cậu nung thêm ý chí phấn đấu đón
nhận những cực hình đang chờ đợi tiếp sau. Ngày 16-8, cha Jaccard và
Tôma Thiện lại bị đưa ra pháp trường, không phải để chịu chết mà là để
nhận một trận đòn nữa đau đớn hơn.
Một hôm,
cửa ngục lại mở. Lần này có mấy cụ đồ vào “thăm” cậu Thiện. Vì nghe biết
tiếng cậu, các cụ tự cho mình “lỗi đạo với thầy Khổng Tử nếu không đến
giục cậu cải tà quy chánh”. Các cụ trưng đủ mọi lý lẽ và lời hay ý đẹp
của thánh hiền để làm mềm lòng cậu Thiện cho cậu bỏ đạo. Tôma Thiện
không buồn đáp một lời khiến các cụ thất vọng kéo nhau rút lui, vừa đi
vừa lẩm bẩm: “Ngu giả bất cập. Sách nói không sai”.
Ngày
18-9-1832, vua Minh Mạng châu phê bản án tử hình Cha Jaccard và Tôma
Thiện. Ngày 21-9, một toán lính cùng hai võ quan cưỡi ngựa vào ngục thất.
Bản án được tuyên đọc. Lính điệu cha Jaccard và Tôma Thiện ra pháp
trường. Nơi xử là Phan Biều, bên kia sông, đối diện với thành Quảng Trị.
Theo yêu
cầu của Cha Jaccard, lính cho Cha và Tôma Thiện cùng quỳ mặt đối mặt
nhau. Hai dây thòng lọng tròng vào cổ hai Cha con. Hồi chiêng trống vừa
dứt, Tôma Thiện ngước mắt trông lên trời, quân lính hai đầu dây, nắm kéo
dây thật mạnh. Tôma Thiện gục đầu tắt thở. Sau khi chứng kiến cái chết
anh hùng của cậu chủng sinh can đảm, Cha Jaccard cũng đưa cổ ra, chịu
hành hình y như vậy.
Tôma Trần
Văn Thiện được Ðức Lêô XIII tôn phong Chân Phước ngày 27-5-1900. Tên của
vị Anh Hùng Tuổi Trẻ được Ðức Gioan Phaolô II chính thức và long trọng
ghi vào sổ các Thánh ngày 19-6-1988.
Thánh Đa Minh Toại và Huyên
Đa Minh Toại sinh năm 1812 và Đa Minh Huyên
sinh năm 1817. Hai ông là giáo hữu họ đạo Đông Thành, tỉnh Thanh Bình.
Cả hai đã có gia đình, là những gia trưởng đạo đức sốt sắng, luôn nêu
gương mến Chúa yêu người. Hai ông sống bằng nghề đánh cá, hằng ngày
chày lưới trên sông Nhị Bình, ở gấn cửa Ba Lạt. Tánh tình đơn sơ, lương
thiện, hai ông đều được các bạn đồng nghiệp và mọi người thương yêu khen
ngợi.
Tháng 8 năm 1861, vua Tự Đức bắt đạo gắt gao.
Nhà vua ra chiếu chỉ Phân Sáp, nhằm tận diệt người theo đạo Công Giáo.
Theo chiếu chỉ này, quân lính và người ngoại giáo được phép vào các làng
Công Giáo tịch thu tài sản và bắt các giáo hưũ đem nộp cho quan, để khắc
hai chử Tả Đạo lên má.
Lúc đó quân lính và người ngoại giáo kéo nhau
vào họ đạo Đông Thành. Sau khi vơ vét tài sản của người Công Giáo, họ
bắt nhiều người đem nộp cho quan huyện, trong số đó có ông Đa Minh Toại
và Đa Minh Huyên. Ông Toại vì bệnh đi lại không nổi, họ bảo ông nộp
tiền chuộc, họ sẽ thả ông về gia đình. Nhưng ông xin đi cùng họ đến
quan huyện vì ông muốn cùng các đồng đạo tuyên xưng danh Chúa trước mặt
mọi người, và hy sinh mạng sống làm chứng cho đạo.
Quân lính dẫn hai ông đến huyện Quỳnh Côi, và
giam vào ngục, đợi ngày xét xử. Suốt chín tháng bị giam trong ngục, hai
ông chịu đói, khát, xiềng xích, nhưng không bao giờ than van, lúc nào
cũng vui vẻ sẵn sàng chịu gian lao khốn khó, trước là để lập công
nghiệp, sau là để nêu gương can đảm hy sinh cho các bạn đồng đạo trong
ngục. Chẳng những thế, hai ông còn thường xuyên an ủi, khích lệ các bạn
bền tâm giữ vững đức tin.
Trong thời gian bị giam giữ, nhiều lần hai ông
bị điệu ra công đường, buộc bước qua Thánh Giá, nhưng các ông cương
quyết không làm theo. Các quan bèn tìm cách dụ dỗ, hứa trả tự do và ban
nhiều tiền của, nếu hai ông đạp lên Thánh Giá. Hai ông đáp:
-Của cải đời này nay còn mai mất,
không thể đem lại cho chúng tôi hạnh phúc vững bền. Chỉ có Chúa mới làm
cho chúng tôi sống đời đời, được hưởng phước muôn đời. Chúng tôi quyết
tin theo Chúa để được người thương ban hạnh phúc đó.
Các quan nổi giận kết án thiêu sống hai ông.
Hai ông vui mừng vì được làm chứng cho Chúa, và thông phần trong việc
cứu rỗi các linh hồn.
Sáng ngày 5 tháng 6 năm 1862, hai ông Đa Minh
Toại và Đa Minh Huyên bước lên giàn hỏa thiêu. Trong khi ngọn lửa bốc
cháy, hai ông cất tiếng hát ngợi khen và cầu xin Chúa thêm sức mạnh để
hoàn thành sứ vụ.
Ngày 29 tháng 4 năm 1951, Đức Thánh Cha Piô XII
tôn phong hai ông lên hàng Chân Phước, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô
tôn phong hai ông lên hàng Hiển Thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988.
Thánh PHAOLÔ HẠNH
(xử trảm ngày 28-5-1859 tại Sài Gòn)
Trích Từ Dòng Máu Anh Hùng Tập I-III của Lm Vũ Thành
Lời của Chúa Giêsu nói với người trộm lành ngày xưa "Thật tôi hứa
với anh, ngày hôm nay anh sẽ lên thiên đàng với tôi", rất thích hợp cho
trường hợp của vị anh hùng tử đạo Phaolô Hạnh. Trước khi bị kết án vì
xưng đạo, ngài đã không sống lương thiện, nói đúng ra là đã lập một nhóm
người chuyên nghề ăn cắp.
Phaolô Hạnh sinh tại Chợ Quán trong khoảng năm 1826-1827. Khi còn
bé đã theo bọn người bất lương, về sau theo hai người anh lớn là Thanh
và Ngai chuyên nghề trộm cướp. Chính ngài tụ tập các trẻ lang thang để
sai đi cướp giật. Theo lời bà Luxia Nguyễn Thị Vang thuật lại, thì một
đêm các lâu la đến nhà bà Hồng ăn trộm, sáng hôm sau gặp Hạnh bà đã nói
lại vì Hạnh thường lui tới nhà bà. Hạnh bắt các lâu la trả lại những đồ
đã lấy khiến bọn chúng tức giận liền đi tố cáo với xã trưởng là Hạnh có
liên lạc với người Pháp. Xã trưởng tên là Tri và Xa Đét vì sợ Hạnh không
dám làm gì, lặng lẽ lên tố cáo với quan tỉnh. Thế là Hạnh bị bắt đưa tới
quan án ở Bà Quẹo. Trước mặt quan ngài đã cực lực chối: "Tôi không bao
giờ giúp cho bọn người mọi rợ Âu Châu, cũng như không bao giờ liên lạc
với họ".
Quan không bắt người khai được điều gì để bắt tội thì quay sang
buộc tội theo đạo Công Giáo như sau: "Mày và rất nhiều người Chợ Quán
theo đạo Gia Tô".
Mặc dù không giữ đạo tử tế nhưng Hạnh đã can đảm hiên ngang xưng
mình là Công Giáo. Quan liền bắt ngài đạp ảnh chuộc tội, nhưng ngài
cương quyết không chịu. Dù bị đánh đập dữ tợn dù phải kìm kẹp xé thịt,
ngài vẫn không sờn lòng. Trước lòng can đảm xưng đạo, quan ra lệnh cho
về nhà giam hy vọng trong ít ngày sẽ nản mà bỏ đạo. Ngày hôm sau quan
cho gọi người ra tòa và hỏi như lần trước.
Những vết thương tra tấn vẫn còn rỉ máu nhưng vị anh hùng vẫn một
lòng trung thành xưng đạo. Lần này quan ra lệnh tra khảo bằng kìm nung
đỏ.
Mùi khét và đau đớn không lay chuyển đức tin. Quan lớn sáng chế ra
một thứ hình khổ khác, sai lý hình đem đe và búa ra để đánh dập ống
chân.
Phaolô Hạnh cắn răng chịu hình khổ quái ác này. Sau cùng quan chịu
thua trước sức mạnh của đức tin, làm án khép tội phải chém đầu vì theo
đạo Gia Tô. Án được thi hành ngày 28-5-1859.
Ông
Lê Tấn Chức là anh vợ của vị tử đạo, sau khi thuật lại việc tra tấn và
xưng đạo của ngài, cho biết thêm rằng trên đường đi người anh hùng xưng
đức tin đã tỏ ra hiên ngang và cho lý hình năm lạng bạc. Xác ngài được
chôn ngay tại cánh đồng và về sau người ta đào rãnh qua đó nên không thể
ghi nhớ chỗ nào là mả của ngài nữa.
|