|
Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam
Thánh
An-rê Dũng Lạc, và
116 vị thánh Việt Nam, tử đạo
tại Việt Nam trong các thế kỷ
18 và 19, được Ðức Thánh Cha Giaon
Phaolô II phong thánh ngày 19 tháng 6, năm 1988.
Ngay sau khi cac nhà truyền giáo Bồ Ðào Nha
khám phá ra Việt Nam, đạo Công Giáo được
đưa vào Việt Nam bởi một giáo
sĩ tên I-nhã năm 1533, có lẽ là một
giáo sĩ Âu Tây trên đường đi
Trung Hoa, và ghé lại Việt Nam hai năm.
Các nhà truyền giáo khác cũng hoạt động
vất vả tại miền đất
ít người lui tới này trong mấy
chục năm. Các linh mục Dòng Tên mở
cơ sở truyền giáo đầu tiên
năm 1615 tại Ðà Nẵng với cha Francesco
Buzomi người Ý và cha Dieogo Carvalho người
Bồ. Họ chăm sóc cho các giáo dân người
Nhật, cũng như họ, đã bị
đuổi ra khỏi nước Nhật
vì bị đàn áp.
A Lịch Sơn Ðắc Lộ, dòng Tên (1591-1660),
vị "tông đồ của Việt
Nam" tới năm 1624, và năm 1627 đi
Hà Nội. Ngài thành công lạ thường.
Năm đầu, ngài rửa tội cho
em gái của Nhà Vua và 1200 người lớn,
trong hai năm sau 5.500 người. Năm
1630, người bị trục xuất,
và một giáo dân đầu tiên (không rõ tên)
bị sử trảm vì đức tin. LM
Ðắc lộ trở lại Việt Nam
nơi ngài báo cáo có 100.000 nguời công giáo
năm 1639. Năm 1645, ngài bị đuổi
một lần nữa, ngài trở về
Pháp và thành lập Hội Truyền Giáo Ba
Lê cho việc truyền giáo ngoại quốc.
Con số đông đảo các nhà truyền
giáo mới của Dòng Truyền Giáo Ngoại
Quốc này khiến cho có một giai đoạn
bành trướng nhanh chóng; năm 1658, riêng
Bắc Việt có 300.000 người công
giáo. Chủng viện đầu tiên được
mở năm 1666, và hai linh mục bản
xứ đầu tiên được chịu
chức năm 1668. Một dòng nữ bản
xứ được thành lập, đó
là Dòng Mến Thánh Giá năm 1670.
Các sự đàn áp lẻ tẻ xẩy ra
cho tới năm 1698 thì các cuộc đàn
áp dữ dội bùng nổ. Các cuộc đàn
áp khác theo sau (đáng ghi là 1712, 1723, và 1750)
trong giai đoạn này ít ra cũng có 100.000
người công giáo, kể cả người
đầu tiên được phong thánh (Gil
và Lenziniana, 1745), chịu tử đạo.
Một thời kỳ bình yên tạm thời
tiếp theo nhờ sự dàn xếp của
vị thừa sai qua một hiệp ước
năm 1787 giữa Pháp và vị vua sắp
lên ngôi là Nguyễn-Ánh, được viện
trợ quân sự của Pháp để trở
thành Hoàng Ðế Gia Long (1806). Hai vua kế
vị (Minh Mang và Tự-Ðức) gia tăng
sự tàn khốc của các cuộc đàn
áp vào các năm 1820-41. Vua Minh Mạng trục
xuất tất cả các giáo sĩ ngoại
quốc và ra sắc chỉ cho tất cả
người công giáo Việt Nam phải bỏ
đạo bằng cách bước qua thập
giá. Sau khi ngơi được một
thời gian, năm 1847, việc đàn áp
đạo Công Giáo lại tái diễn khi
nhà vua nghi ngờ các giáo sĩ ngoại quốc
và giáo dân Việt Nam trợ giúp sự nổi
loạn của một thái tử. Người
Công Giáo bị khắc trên mặt hai chữ
tà đạo; chồng vợ bị
ly tán, con cái bị tách rời khỏi cha
mẹ. trong thế kỷ 19, từ 100.000
đến 300.000 người chịu bách
hại, kể cả đa số những
người được phong thánh. Sự
chống lại của người công
giáo đáng ghi nhận qua việc che dấu
các linh mục thật là quả cảm.
Trong năm năm từ 1857 đến 1862,
có khoảng trên 5.000 tín đồ chịu
tử đạo, cộng với 215 linh
mục và nữ tu bản xứ, và có khoảng
40.000 người công giáo bị tước
hết quyền sở hữu, và bị
đầy ra khỏi nơi họ sinh sống.
Năm 1917 hơn 2.078 trường hợp
trong nhóm này được mang ra trình bày;
và một con số trượng trưng
25 người được phong Á Thánh
năm 1951.
Mặc dầu hồ sơ của đa
số những người chịu bách
hại đã bị tiêu hủy, tất cả
có 117 vị, trong đó có 96 người
Việt, 11 cha Ða Minh người Tây Ban Nha,
và 10 giáo sĩ người Pháp thuộc Hội
Thừa Sai Ba Lê đã được phong
thánh. Trong số đó có 8 Giám Mục, 50
linh mục (15 cha Ða Minh, 8 cha Hội Thừa
Sai Ba Lê, 27 cha triều), 1 chủng sinh, và
58 giáo sĩ
(9 người Dòng Ba Ða Minh, và 17 thầy
giảng) tử đạo tại Bắc
Hà, Trung Phần và Nam Phần. Ða số bị
sử trảm (chặt đầu) (76),
nhưng 21 nguời bị xử giảo
(thắt cổ) chết, 9 chết vì bị
tra tấn, 6 bị thiêu sống, và 5 bị
lăng trì (phân thây). Tên của các vị
thánh tử đạo này được
liệt kê sau đây. Các vị thánh này được
phong Á thánh trong bốn kỳ khác nhau: 64 vị
năm 1900 bời Ðức Giáo Hoàng Lêo XIII;
8 vị năm 1906 bởi Ðức Giáo Hoàng
Piô X (tất cả đều là Ða Minh);
20 năm 1909 cũng bởi Ðức Giáo Hoàng
Piô X; và 25 năm 1951 bởi Ðức Giáo Hoàng
Piô XII. |
Martyrs of Vietnam
An-rê
Trần Anh Dũng, A.k.a. Andrew Dung-Lac and
116 Companions,
martyrs of Tonkin; martyrs of Indo-China; d. 18th-19th
centuries. Canonized 19 June 1988 by Pope John Paul II.
Not long
after the Portuguese discovered Vietnam, Christianity
was introduced in 1533 by a certain Inigo (Ignatius),
seemingly a European religious on his way to China, who
remained in Vietnam for 2 years. Other missionaries labored
intermittently in this little-frequented region for several
decades. The Jesuits opened the first stable mission in
1615 at Da Nang (Annam) with the arrival of the Neopolitan
Francesco Buzomi and Portuguese Diego Carvalho. They ministered
to Japanese converts who, like themselves, had been driven
from Japan by persecution.
Alexander
de Rhodes, SJ (1591-1660), the "apostle of Vietnam,"
arrived in 1624, and in 1627 went to Hà Nội, capital
of Tonkin in what is now North Vietnam. His success was
extraordinary. The first year he baptized the king's sister
and 1,200 adults; in the next 2 years, 5,500. In 1630,
he was expelled and the first Christian (unnamed) was
beheaded for the faith. Rhodes returned to Vietnam from
where he reported 100,000 Vietnamese Catholics in 1639.
In 1645, he was banished again, returned to France, and
founded the Paris Seminary for Foreign Missions. The influx
of new missionaries from the Society for Foreign Missions
led to a period of swift growth; in 1658, there were 300,000
Catholics in Tonkin alone. The first seminary opened in
1666, and the first 2 native priests were ordained in
1668. A native religious congregation of women, the Lovers
of the Cross (Amantes de la Croix), began in 1670.
Sporadic
persecutions occurred up to 1698, when the first severe
one erupted. Others followed (notably 1712, 1723, and
1750) during which at least 100,000 Christains, including
the first of the canonized (Gil and Lenziniana, 1745),
were martyred. A temporary peace took effect when the
vicar apostolic arranged a treaty (1787) between France
and a pretender to the Vietnamese throne, Nguyễn-Ánh,
who was given French military aid to become Emperor Gialong
(1806). His Annamite successors (Minh Mang and Tu-Dúc)
increased the ferocity of the persecutions in 1820-41.
Minh banished all foreign missionaries and required Vietnamese
Christians to apostatize by trampling a crucifix underfoot.
After abating for a time, in 1847, suppression of Christianity
was renewed when the emperor suspected foreign missionaries
and Vietnamese Christians of aiding in the rebellion of
one of his sons. Christians were marked on their faces
with the words tà đạo ("false religion");
husbands were separated from their wives, and children
from their parents. During the 19th century, between 100,000
and 300,000 Christians suffered for their faith, including
most of those canonized. Catholic resistance, shown notably
in hiding priests, was heroic. In the 5 years between
1857 and 1862, it is estimated that more than 5,000 faithful
were martyred in addition to 215 native priests and nuns,
and about 40,000 Catholics were dispossessed and exiled
from their home regions. In 1917 no less than 2,078 causes
from this last group were introduced; a representative
sample of 25 were beatified in 1951.
Although
the records of most who suffered have been destroyed,
a total of 117—including 96 Vietnamese, 11 Spanish Dominicans,
and 10 French members of the Paris Society for Foreign
Missions(Missions Etrangères de Paris) (MEP)—were
canonized. Among them were 8 bishops, 50 priests (15 Dominicans,
8 members of the Paris Foreign Mission Society, 27 seculars),
1 seminarian, and 58 lay people (9 Dominican tertiaries
and 17 catechists) martyred in Tonkin (in what was North
Vietnam), Cochin-China (South Vietnam), and Annam (parts
in North and South Vietnam). The majority (76) were beheaded
but 21 were suffocated, 9 died from their tortures, 6
burnt alive, and 5 mutilated. The names of this representative
sample of 117 martyrs follows. These martyrs were beatified
on four separate occasions: 64 in 1900 by Pope Leo XIII;
8 in 1906 by Pope Pius X (all Dominicans); 20 in 1909
also by Pius X; and 25 in 1951 by Pope Pius XII. |